[Research Contribution] Tài chính khí hậu hỗn hợp: Lời giải cho bài toán vốn xanh nông – thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long

18 Tháng Chín, 2026

Từ khóa: Tài chính khí hậu hỗn hợp; Chuyển đổi xanh; Đồng bằng sông Cửu Long; Net Zero; Chuỗi giá trị nông – thủy sản; Tài chính carbon. 

Khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) và các tiêu chuẩn ESG đang định hình lại luật chơi của thương mại nông sản toàn cầu – Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải xanh hóa sản xuất, trong khi nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi vẫn còn thiếu hụt đáng kể. Trong bối cảnh đó, nhóm nghiên cứu thuộc UEH Mekong, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), đã chỉ ra rằng tài chính khí hậu hỗn hợp, với sự kết hợp giữa vốn nhà nước, vốn ưu đãi quốc tế và vốn tư nhân, có thể trở thành đòn bẩy để chia sẻ rủi ro, thu hút đầu tư và khơi thông nguồn vốn cho quá trình xanh hóa chuỗi giá trị nông, thủy sản của ĐBSCL. Từ đó, nghiên cứu đề xuất khung chính sách gồm năm trụ cột, hướng tới hình thành hệ sinh thái tài chính khí hậu liên kết vùng và góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Tv #50 Bg 1499x600

Đồng bằng Sông Cửu Long trước yêu cầu chuyển đổi xanh 

Nếu trước đây sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam chủ yếu dựa trên giá thành và chất lượng, thì nay dấu chân carbon, khả năng truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn ESG ngày càng trở thành “tấm vé thông hành” để nông sản Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Những hàng rào thương mại xanh như Quy định chống phá rừng (EUDR) và Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của châu Âu cho thấy thương mại quốc tế đang ngày càng chú trọng các tiêu chuẩn môi trường và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, cùng với cam kết đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050 tại COP26, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung chính sách về tăng trưởng xanh, trong đó Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu và Nghị định 06/2022/NĐ-CP về thị trường carbon trong nước là những nền tảng quan trọng.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi xanh tại ĐBSCL vẫn đối mặt với nhiều hạn chế về tài chính, công nghệ và năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải (MRV). Là vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản trọng điểm đồng thời chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, ĐBSCL cần nguồn lực cho cả thích ứng với xâm nhập mặn, sạt lở, suy giảm tài nguyên nước và chuyển đổi sang các mô hình sản xuất phát thải thấp. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng còn thận trọng trước rủi ro của nông nghiệp xanh, còn khu vực tư nhân chưa mạnh dạn đầu tư khi cơ chế chia sẻ rủi ro chưa rõ ràng. 

Từ thực tiễn đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào khơi thông dòng vốn khí hậu và đưa nguồn vốn đến người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị nông, thủy sản, thay vì chỉ dừng ở các dự án thí điểm riêng lẻ? Đây cũng là câu hỏi trung tâm của nghiên cứu “Tài chính khí hậu hỗn hợp cho chuyển đổi xanh trong chuỗi giá trị nông, thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới Net Zero”.

Khoảng trống tài chính cho chuyển đổi xanh 

Những con số về quy mô sản xuất và chuyển đổi xanh cho thấy ĐBSCL đang đứng trước một quá trình chuyển đổi quy mô lớn, đồng thời giữ vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực và xuất khẩu của Việt Nam. Hiện nay, ĐBSCL tiếp tục giữ vai trò là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và khoảng 95% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp là một bước đi nổi bật, với diện tích triển khai đạt 354.839 ha, tương đương 197% mục tiêu 180.000 ha của giai đoạn đầu. 

Tuy nhiên, quy mô chuyển đổi lớn kéo theo nhu cầu vốn đáng kể. Việt Nam cần khoảng 81,3 tỷ USD cho lộ trình Net Zero; riêng Đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp ước tính cần 82.989 tỷ đồng cho hạ tầng và chuỗi giá trị. Dù dư nợ tín dụng xanh trên cả nước đã vượt 750 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, nguồn vốn vẫn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng, trong khi nông nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn. Trên phạm vi toàn cầu, nghịch lý này cũng thể hiện rõ: Nông lương tạo ra khoảng một phần ba lượng khí nhà kính nhưng chỉ nhận khoảng 4,3% tổng nguồn tài trợ khí hậu. 

Khoảng trống không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở sự kết nối giữa tài chính khí hậu và chuỗi giá trị. Phân tích trắc lượng thư mục 1.942 công trình quốc tế giai đoạn 2006–2026 cho thấy nghiên cứu về “tài chính chuỗi cung ứng” và “tài chính khí hậu” phát triển mạnh nhưng vẫn tương đối tách biệt. Điều này đặt ra yêu cầu về một cơ chế kết nối dòng vốn khí hậu xuyên suốt chuỗi giá trị nông, thủy sản, từ người sản xuất đến doanh nghiệp và thị trường. Đây là khoảng trống mà nghiên cứu về tài chính khí hậu hỗn hợp cho chuyển đổi xanh tại ĐBSCL hướng tới giải quyết. 

Kinh nghiệm quốc tế về tài chính khí hậu

Nghiên cứu đối chiếu kinh nghiệm của Thái Lan, Brazil và Indonesia, qua đó cho thấy những cách tiếp cận khác nhau trong huy động và phân bổ nguồn lực cho chuyển đổi xanh.

Tại Thái Lan, dự án Thai Rice NAMA kết hợp vốn từ Chính phủ Đức, Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) và nguồn vốn ưu đãi trong nước, sau đó thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã Nông nghiệp (BAAC) đưa vốn đến nông dân bằng quỹ quay vòng, hỗ trợ áp dụng các công nghệ như san phẳng mặt ruộng bằng laser, tưới khô xen kẽ và bảo hiểm theo chỉ số thời tiết.

Brazil phát huy vai trò của ngân hàng phát triển thông qua Chương trình Nông nghiệp Carbon thấp (Plano ABC), kết hợp tín dụng xanh, trái phiếu xanh và tín chỉ khử carbon, đồng thời gắn vốn ưu đãi với yêu cầu về đăng ký môi trường và không phá rừng.

Tại Indonesia, Green Sukuk được sử dụng để tài trợ phục hồi rừng ngập mặn và phát triển “carbon xanh dương” (blue carbon), góp phần thực hiện lộ trình Net Zero.

Từ ba mô hình, nghiên cứu rút ra ba điều kiện: (i) Tài chính khí hậu cần kết nối vốn công, vốn ưu đãi và vốn tư nhân thay vì triển khai qua các chương trình rời rạc; (ii) Dữ liệu phát thải và hệ thống MRV phải đủ tin cậy để kết nối với nguồn vốn và thị trường carbon; và (iii) Chuyển đổi xanh cần được thực hiện trên toàn bộ chuỗi giá trị, thay vì chỉ tập trung vào từng tác nhân riêng lẻ. Đây là những mắt xích mà ĐBSCL đang từng bước hình thành, qua đó lý giải vì sao dù nhiều chính sách đã được ban hành, dòng vốn khí hậu vẫn chưa thực sự đến được với nông hộ và doanh nghiệp.

Năm trụ cột khơi thông dòng vốn khí hậu

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất năm trụ cột chính sách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong chuyển đổi xanh tại ĐBSCL. 

Trụ cột 1 – Hoàn thiện thể chế, kiến tạo hệ sinh thái tài chính khí hậu. Xây dựng đầu mối điều phối tài chính khí hậu cấp vùng trực thuộc Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL; Hoàn thiện khung pháp lý cho tài chính hỗn hợp và cơ chế vốn bù đắp tổn thất ban đầu; Nghiên cứu hình thành quỹ chuyển đổi xanh cấp vùng, tham khảo Quỹ FONERWA của Rwanda và mô hình quỹ quay vòng của Thái Lan. 

Trụ cột 2 – Khơi thông dòng vốn qua mô hình tài chính hỗn hợp. Xây dựng các mô hình tài chính hỗn hợp cho các ngành hàng chủ lực như lúa gạo, tôm, cá tra và cây ăn trái; phát huy vai trò của ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách; mở rộng các kênh huy động vốn như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và tín chỉ carbon. 

Trụ cột 3 – Xây dựng hạ tầng dữ liệu xanh, hệ thống MRV và thị trường carbon. Chuẩn hóa MRV cho các ngành hàng chủ lực, xây dựng nền tảng dữ liệu xanh dùng chung cấp vùng và cơ sở dữ liệu carbon cho các mô hình phát thải thấp. Đây là cơ sở để minh chứng hiệu quả giảm phát thải và hỗ trợ nông dân, hợp tác xã tiếp cận thị trường tín chỉ carbon. 

Trụ cột 4 – Xanh hóa chuỗi giá trị và tăng cường liên kết thị trường. Phát triển chuỗi ngành hàng quy mô lớn, xây dựng vùng nguyên liệu xanh có khả năng truy xuất nguồn gốc và phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp đầu chuỗi. Song song đó, phát triển thương hiệu nông, thủy sản xanh gắn với tiêu chuẩn quốc tế, như mô hình “Gạo Việt xanh” với 18.000 ha đạt chứng nhận và những lô gạo đầu tiên xuất khẩu sang Nhật Bản. 

Trụ cột 5 – Nâng cao năng lực nguồn nhân lực, mở rộng hợp tác quốc tế. Trang bị kiến thức về tài chính xanh, ESG, MRV và thị trường carbon cho nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cán bộ quản lý; đẩy mạnh khuyến nông, nhân rộng các mô hình phát thải thấp; đồng thời xây dựng đội ngũ chuyên gia và danh mục dự án ưu tiên để thu hút nguồn lực từ GCF, WB, ADB và GEF. 

Bản đồ vai trò sau sáp nhập

Nghiên cứu đặt khung năm trụ cột chính sách trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển của ĐBSCL, với định hướng phân vai dựa trên lợi thế so sánh của từng địa phương. Cụ thể, Cần Thơ làm đầu mối điều phối tài chính, dữ liệu và đổi mới sáng tạo; An Giang phát huy thế mạnh lúa gạo và nông nghiệp carbon thấp; Đồng Tháp kết nối chuỗi giá trị với thị trường xuất khẩu xanh; Vĩnh Long thúc đẩy chế biến xanh và kinh tế tuần hoàn; Cà Mau phát triển kinh tế biển, thủy sản phát thải thấp và tài chính xanh dương.

Cách tiếp cận này hướng đến tăng cường liên kết và bổ trợ giữa các địa phương, qua đó hình thành hệ sinh thái tài chính khí hậu cho toàn vùng.

Chính vì thế, công trình được xây dựng theo hướng tham vấn chính sách, nghiên cứu không chỉ phân tích thực trạng mà còn hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về tài chính khí hậu hỗn hợp, từ đó xây dựng khung kết nối dòng vốn khí hậu với toàn bộ chuỗi giá trị nông, thủy sản và đề xuất năm trụ cột giải pháp gắn với định hướng phát triển vùng. Việc hoàn thiện thể chế, đa dạng hóa nguồn vốn, xây dựng hạ tầng dữ liệu và thị trường carbon, cùng với tăng cường liên kết chuỗi giá trị sẽ tạo nền tảng cho ĐBSCL thúc đẩy chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Xem toàn bộ bài nghiên cứu Tài chính khí hậu hỗn hợp: Lời giải cho bài toán vốn xanh nông – thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long TẠI ĐÂY.

Nhóm tác giả: PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt, TS. Nguyễn Thị Thý Liễu, Bùi Lệ Vi – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH).

Đây là bài viết nằm trong chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng với thông điệp “For a More Sustainable Mekong – Vì một Đồng bằng sông Cửu Long bền vững”, thuộc chương trình “Research Contribution For All – Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng” do UEH thực hiện. UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin UEH Research Insights tiếp theo.

Chân Trang (1)

Tin, ảnh: Tác giả, Phòng Tuyển sinh – Truyền thông UEH Mekong, Ban Truyền thông và Phát triển đối tác UEH

Giọng đọc: Thanh Kiều

abcd

18 Tháng Sáu, 2026

Chu kỳ giảm giá của đồng USD?

TS. Đinh Thị Thu Hồng và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Việt Nam cần kịch bản cho thương mại tương lai

ThS. Tô Công Nguyên Bảo

26 Tháng Sáu, 2021

Hệ thống tiền tệ tiếp theo như thế nào?

TS. Lê Đạt Chí và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam

Khoa Quản lý nhà nước

26 Tháng Sáu, 2021

Cần đưa giao dịch công nghệ lên sàn chứng khoán

Bộ Khoa học và Công nghệ

5 Tháng Sáu, 2021

Thiết kế đô thị: tầm nhìn vững chắc cho đô thị bền vững

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

Phục hồi du lịch và nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy ảnh hưởng bởi Covid-19

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

2021 sẽ là năm khởi đầu của chu kỳ tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

5 Tháng Sáu, 2021

Quỹ vaccine sẽ khả thi khi có người dân đóng góp

Phạm Khánh Nam, Việt Dũng

5 Tháng Sáu, 2021

Kích thích kinh tế, gia tăng vận tốc dòng tiền

Quách Doanh Nghiệp

5 Tháng Sáu, 2021

Đi tìm chiến lược hậu Covid-19 cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo, ThS Lê Văn

5 Tháng Sáu, 2021

Insurtech – Cơ hội và thách thức cho Startup Việt

Ths. Lê Thị Hồng Hoa

5 Tháng Sáu, 2021