[Research Contribution] Phát huy nội lực quốc gia từ kinh tế tư nhân: Tái cấu trúc mô hình phát triển Việt Nam – Kỳ 1

10 Tháng Mười, 2025

Từ khóa: kinh tế tư nhân, tăng trưởng GDP, phân kỳ thời gian, thể chế kinh tế.

Sau hơn một thập kỷ chuyển mình mạnh mẽ, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã đi từ “vị thế được thừa nhận” đến “động lực then chốt” của tăng trưởng quốc gia. Bức tranh phát triển qua ba giai đoạn – cơ bản (2010–2015), tăng tốc (2016–2020) và bứt phá (2021–2024) – không chỉ phản ánh sự trưởng thành của khu vực này, mà còn soi chiếu tiến trình đổi mới tư duy thể chế và năng lực vận hành của doanh nghiệp Việt trong dòng chảy hội nhập toàn cầu. Từ những giới hạn ban đầu đến sức bật bền bỉ sau đại dịch, khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò không thể thay thế trong tăng trưởng GDP và tái cấu trúc nền kinh tế. Bước vào giai đoạn 2025–2030, khi nền kinh tế chuyển hướng sang tăng trưởng số và đổi mới sáng tạo, việc xác lập chiến lược phát huy vai trò “động lực chủ đạo” của khu vực này không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tiến tới mục tiêu quốc gia phát triển thịnh vượng, bền vững vào năm 2045. Ở kỳ 1 của bài nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), chúng ta sẽ cùng tìm hiểu quá trình phát triển của KTTN trong tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam.

Thumb Lớn Thương Hiệu Học Thuật Mới

Giai đoạn 2010 – 2015 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình định hình vai trò Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam

Trong giai đoạn 2010–2015, mặc dù còn đối mặt với nhiều rào cản thể chế và pháp lý, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) vẫn đóng vai trò đáng kể trong việc duy trì đà tăng trưởng kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê (2015), khu vực ngoài nhà nước – chủ yếu là KTTN – đã đóng góp khoảng 38–40% GDP mỗi năm. Đây là thời kỳ Việt Nam bước ra khỏi khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009, với trọng tâm là ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu nền kinh tế. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XI của Đảng (2011) lần đầu tiên khẳng định KTTN là “một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế”, đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy thể chế. Nếu trước đó, khu vực này chỉ được xem là “bộ phận bổ trợ”, thì từ thời điểm này, Đảng đã chính thức hóa vai trò chủ động của KTTN trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XI cũng đặt ra yêu cầu cải thiện môi trường thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 đã đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường; Nghị quyết 19/NQ-CP (2014) cũng được ban hành nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Về mặt đóng góp thực tế, trong giai đoạn 2010 – 2015, KTTN dù đối mặt nhiều rào cản thể chế và pháp lý, nhưng vẫn cho thấy vai trò đáng kể trong việc duy trì đà tăng trưởng kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê (GSO, 2015), khu vực ngoài nhà nước (trong đó chủ yếu là KTTN) đã đóng góp khoảng 38 – 40% GDP mỗi năm, sử dụng hơn 77% lực lượng lao động xã hội, và chiếm khoảng 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong giai đoạn 2010–2015, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã chứng tỏ tính năng động vượt trội, đặc biệt trong các ngành như chế biến thực phẩm, bán lẻ, xây dựng và vận tải nội địa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành chế biến thực phẩm tăng trưởng 5,1%, còn ngành đồ uống đạt mức tăng 10% vào năm 2014. Ngành xây dựng cũng ghi nhận mức tăng trưởng 10,8%, cao nhất kể từ năm 2010 (GSO, 2015). Trong cùng thời kỳ, có hơn 50% hộ kinh doanh ngoài nông nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, 11% trong vận tải, và gần 1% trong xây dựng (Vietnam Government Portal, 2011).

Đặc biệt, đây là giai đoạn đầu tiên xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như công nghệ thông tin – với các trung tâm phần mềm tại TP.HCM – và nông nghiệp công nghệ cao, tiêu biểu là các mô hình nuôi tôm, cá tra ứng dụng công nghệ hiện đại, đạt năng suất lao động vượt trội (World Bank, 2019). Sự tham gia của khu vực tư nhân trong các ngành này đánh dấu bước chuyển về chất trong cấu trúc khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam. 

Mặc dù đạt được những bước tiến đáng kể, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam giai đoạn 2010–2015 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế mang tính cơ cấu và thể chế. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính rườm rà, việc phân loại sở hữu của các thành phần kinh tế thiếu minh bạch, không nhất quán đã dẫn đến sai lệch trong đánh giá vai trò và hiệu quả đóng góp thực chất của KTTN. Giai đoạn này còn bị “chồng lấn” giữa doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước và doanh nghiệp tư nhân thuần túy, giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách phù hợp (CIEM, 2015; World Bank, 2019). Nhiều doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước chi phối vẫn được tính là doanh nghiệp tư nhân; một số doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới 50% lại không được thống kê là FDI; hộ kinh doanh – chiếm tỷ trọng lớn trong KTTN – lại chưa được đưa vào hệ thống thống kê doanh nghiệp. Những bất cập này khiến việc hoạch định chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân gặp nhiều trở ngại. Do đó, phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (chiếm trên 94%) gặp khó khăn về nguồn vốn, năng suất thấp, và ít liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu (Lê Duy Bình, 2018). Hạn chế này có nguyên nhân từ cả nhà nước và doanh nghiệp. Một mặt, chính sách hỗ trợ còn phân tán, thiếu hiệu lực, và chưa thực sự tạo động lực bền vững cho doanh nghiệp phát triển quy mô. Mặt khác, năng lực quản trị nội tại của doanh nghiệp tư nhân còn yếu, thiếu chiến lược dài hạn, trình độ công nghệ lạc hậu, và phụ thuộc lớn vào vốn vay tín dụng ngắn hạn với chi phí cao. 

Vấn đề đặt ra giai đoạn này là KTTN: phải tái cấu trúc mô hình kinh doanh theo hướng hiện đại, đầu tư vào đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực và quản trị doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế. Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục cải thiện thể chế theo hướng thị trường, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, tăng cường năng lực thực thi chính sách, và khuyến khích hình thành các doanh nghiệp tư nhân lớn, đủ sức cạnh tranh ở cấp độ khu vực và toàn cầu.

Giai đoạn 2016 – 2020 đánh dấu giai đoạn tăng tốc phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, trở thành bước ngoặt thể chế và động lực đổi mới quan trọng trong nền kinh tế

Giai đoạn này, KTTN có sự thay đổi sâu sắc trong tư duy phát triển kinh tế quốc gia, thể hiện rõ nét trong các văn kiện chính trị và hành động chính sách cụ thể. Văn kiện Đại hội XII của Đảng (2016) đã tạo dấu mốc quan trọng trong nhận thức và định hướng phát triển kinh tế tư nhân, khi lần đầu tiên khẳng định rõ ràng và đầy đủ rằng: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Điều này chấm dứt quan điểm coi khu vực tư nhân chỉ là “bộ phận bổ trợ” cho kinh tế quốc doanh và tập thể trong hệ thống kinh tế quốc dân.

Tiếp nối bước đột phá đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân một cách lành mạnh, hiệu quả và bền vững, thực sự trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017). Nghị quyết này cũng đề ra các mục tiêu cụ thể, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược dài hạn đối với khu vực kinh tế tư nhân: Tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP dự kiến đạt khoảng 50% vào năm 2020, 55% vào năm 2025 và từ 60 – 65% vào năm 2030. Đồng thời, khu vực này được kỳ vọng đạt mức tăng năng suất lao động trung bình 4 – 5%/năm trong giai đoạn 2016–2025, và đến năm 2030 sẽ có nhiều doanh nghiệp tư nhân vươn lên nhóm dẫn đầu ASEAN-4, tích cực tham gia chuỗi sản xuất và giá trị khu vực, toàn cầu.

 Quan trọng hơn cả, những định hướng này đánh dấu sự chuyển biến căn bản trong tư duy phát triển, khi lần đầu tiên Đảng xác lập vai trò chiến lược của khu vực kinh tế tư nhân như một động lực dài hạn, chủ động và cấu thành cốt lõi trong mô hình tăng trưởng hiện đại, thay vì chỉ giữ vai trò hỗ trợ hoặc tạm thời như trước đây.

Đảng, Nhà nước đã đẩy mạnh thể chế hóa qua nhiều chính sách cụ thể nhằm cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh và thúc đẩy năng lực nội sinh của khu vực tư nhân. Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 lần đầu tiên đưa ra khung pháp lý toàn diện để hỗ trợ khu vực chiếm trên 98% tổng số doanh nghiệp trong nước. Chương trình quốc gia khởi nghiệp, các quỹ đổi mới sáng tạo, cơ chế ưu đãi tiếp cận tín dụng, hỗ trợ đào tạo, mặt bằng và chuyển giao công nghệ đã tạo ra làn sóng phát triển doanh nghiệp trên khắp cả nước. Theo Tổng cục Thống kê (GSO, 2021), đến cuối năm 2020, cả nước có trên 700.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, trong đó trên 96% là doanh nghiệp tư nhân trong nước. KTTN đóng góp hơn 45% GDP, sử dụng trên 85% tổng số lao động, và chiếm hơn 40% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực này không chỉ là về số lượng, mà còn thể hiện ở chất lượng và phạm vi hoạt động. Một loạt doanh nghiệp tư nhân lớn như Vingroup, Masan, FPT, Thaco, VietJet… đã vươn ra khu vực và quốc tế, góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển chuỗi giá trị nội địa. KTTN cũng dần chiếm lĩnh các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như bất động sản, logistics, công nghiệp chế biến –  chế tạo, thương mại điện tử và công nghệ thông tin –  truyền thông.

Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu nổi bật, khu vực KTTN vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại và hệ thống. Về mặt thể chế, mặc dù môi trường đầu tư được cải thiện, nhưng vẫn tồn tại nhiều rào cản hành chính, chi phí không chính thức và sự thiếu minh bạch trong thực thi pháp luật. Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2019 cho thấy, có tới 59% doanh nghiệp tư nhân cho rằng chi phí không chính thức là “một gánh nặng” (VCCI, 2020). Đồng thời, theo Ngân hàng Thế giới (2020), doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ, năng lực quản trị yếu, công nghệ lạc hậu, ít có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nguyên nhân của những hạn chế này đến từ cả hai phía: Nhà nước và bản thân khu vực doanh nghiệp. Về phía Nhà nước, quá trình cải cách thể chế còn chưa đồng bộ, chất lượng xây dựng và thực thi chính sách còn khoảng cách lớn. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn mang tính phong trào, thiếu cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả thực chất. Về phía doanh nghiệp, tâm lý ngắn hạn, đầu tư dàn trải, thiếu chuyên môn hóa và liên kết ngành khiến nhiều doanh nghiệp không vượt qua được ngưỡng phát triển để chuyển sang quy mô lớn và cạnh tranh toàn cầu.

Trong bối cảnh mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, KTTN cần thực hiện chiến lược phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Trước hết, cần tái cấu trúc theo hướng tập trung vào các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ số, đầu tư vào nghiên cứu – phát triển (R&D), và chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản trị. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực FDI và doanh nghiệp nhà nước, hướng đến hình thành các cụm liên kết ngành và vùng kinh tế trọng điểm. Về phía Nhà nước, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tạo ra khung thể chế thân thiện với doanh nghiệp, cải thiện chất lượng thực thi pháp luật và đảm bảo quyền sở hữu tài sản – từ đó tạo nền tảng ổn định cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững.

Như vậy, giai đoạn 2016 – 2020 đã chứng kiến sự chuyển biến mang tính bước ngoặt trong nhận thức và hành động chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Với vai trò được xác lập là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, KTTN không chỉ đóng góp về GDP còn đang định hình lại mô hình phát triển kinh tế quốc gia theo hướng tự chủ, sáng tạo và hội nhập. Tuy nhiên, để khu vực này thực sự trở thành động lực trung tâm cho tăng trưởng nhanh và bền vững, cần tiếp tục những cải cách mang tính hệ thống và đồng bộ trong cả tư duy, chính sách và năng lực quản trị ở cả khu vực công và khu vực tư.

Giai đoạn bứt phá (2021–2024): kinh tế tư nhân phục hồi sau đại dịch COVID-19, trở thành trục xoay quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nội sinh

Tại Đại hội XIII (2021), trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống – kinh tế, Đảng ta nhận thức rõ hơn bao giờ hết vai trò của nội lực quốc gia, trong đó khu vực kinh tế tư nhân được xác định là “một động lực quan trọng của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, t.1, tr. 112). Đảng nhấn mạnh cần khuyến khích KTTN mở rộng hoạt động trong mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, với tỷ trọng đóng góp vào GDP đạt từ 60 đến 65% và tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt khoảng 33 – 35% GDP.

Tiếp nối tinh thần Đại hội XIII, Chính phủ đã cụ thể hóa các mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân thông qua nhiều văn bản chính sách trọng điểm. Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 31/3/2023 đặt ra chỉ tiêu đến năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp, trong đó khoảng 60.000–70.000 doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; đến năm 2030, đạt ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, với 35–45% có hoạt động đổi mới sáng tạo. Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Đồng thời, các chính sách như Nghị quyết 02/NQ-CP (1/1/2022) về cải thiện môi trường kinh doanh, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội 2022–2023, cùng với Nghị quyết 25/NQ-CP (2025) về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đã đưa ra chỉ tiêu “khoán” tăng trưởng cho từng địa phương, lấy mốc GDP quốc gia tăng tối thiểu 8%/năm làm nền tảng, từng bước hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới (Chính phủ, 2022; 2023; 2025). Các định hướng này cho thấy vai trò trung tâm của khu vực tư nhân trong chiến lược phát triển nội lực và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Việc giao trọng trách này cho khu vực tư nhân là minh chứng rõ rệt cho tư duy tính chiến lược về phát triển kinh tế của Việt Nam: khu vực tư nhân không còn là lực lượng hỗ trợ mà là động lực chủ lực, trực tiếp dẫn dắt mục tiêu tăng trưởng quốc gia (Nguyễn & Hoàng, 2024). Chính trong bối cảnh bình thường mới sau đại dịch Covid – 19, một loạt tập đoàn tư nhân hàng đầu Việt Nam như VinFast (ô tô  –  xe máy điện), Masan (thực phẩm  –  nông sản), VNG (công nghệ số), và các doanh nghiệp sở hữu nền tảng AI, logistics, biotech, fintech… đã chứng minh năng lực sáng tạo, khả năng hồi phục và đột phá trong hoạt động sản xuất  –  kinh doanh.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2024), khu vực tư nhân năm 2023 đã đóng góp khoảng 52% GDP, sử dụng hơn 87% lực lượng lao động, và chiếm 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nếu tính riêng về xuất khẩu nông sản, nhiều doanh nghiệp tư nhân trở thành đầu tàu quan trọng, có doanh thu tăng trưởng 2  –  3 lần so với trước đại dịch (GSO, 2024). Điều này cho thấy, giai đoạn 2021–2024 ghi nhận sự phục hồi ấn tượng của kinh tế tư nhân sau cú sốc COVID-19, song cũng bộc lộ rõ nhiều thách thức mang tính hệ thống. Đến cuối năm 2024, số doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt hơn 940.000, chưa đạt mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp đề ra tại Nghị quyết 10–NQ/TW cho năm 2020 (CIEM, 2024). Tỷ lệ doanh nghiệp rút lui tăng cao, trong khi năng suất lao động của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng 60% bình quân khu vực doanh nghiệp, còn hộ kinh doanh chỉ đạt 34% (Ngân hàng Thế giới, 2023). Hiệu quả đầu tư thấp với hệ số ICOR ở mức 10,1, cao hơn 1,6 lần so với khối FDI (Tổng cục Thống kê, 2024).

Doanh nghiệp tư nhân vẫn gặp rào cản lớn trong tiếp cận đất đai, tài chính và dự án quan trọng. Chỉ số tiếp cận đất đai PCI giảm từ 7,01 (2021) xuống 6,75 (2023), và đến 2023, tới 73% doanh nghiệp gặp khó khi thực thi thủ tục đất đai (VCCI, 2023). Chỉ 5% doanh nghiệp tư nhân thực hành quản trị tốt, và điểm ACGS trung bình của DN Việt (57 điểm) vẫn thấp nhất trong ASEAN (ASEAN CG Scorecard, 2024). Trong chuyển đổi kép xanh–số, khoảng 80% doanh nghiệp chưa nhận thức đúng vai trò của đổi mới sáng tạo, chỉ 12% có chính sách ESG, và số liệu cho thấy hầu hết thiếu nhân lực chất lượng cao, nền tảng công nghệ phù hợp và khả năng tiếp cận dữ liệu (Cisco, 2020; CIEM, 2023).

Mặc dù vậy, COVID-19 đã tạo ra động lực thúc đẩy nội lực tư nhân: với lợi thế nhỏ, linh hoạt, doanh nghiệp tư nhân nhanh chóng áp dụng thương mại điện tử, logistics nội địa và các giải pháp số để duy trì hoạt động, đảm bảo chuỗi cung ứng và khôi phục thị trường nội địa (Nguyễn Kim Nguyên, 2023). Tuy nhiên, bản chất “phanh đột ngột” khi chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào nguyên liệu FDI và logistics quốc tế đã bộc lộ rõ sự mong manh. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu sản xuất hàng giá trị thấp, thiếu kết nối chuỗi giá trị và công nghệ tiên tiến; khả năng huy động tài chính dài hạn hạn chế, vẫn phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn với lãi suất cao; năng lực quản trị, ESG và nhân lực cao chưa được nâng cao (VCCI, 2023).

Nguyên nhân chính phát sinh từ yếu tố nội sinh của nền kinh tế, như doanh nghiệp chưa xây dựng chiến lược dài hạn, thiếu định hướng chuyển đổi số và thông tin đổi mới, và yếu tố ngoại sinh, bao gồm chính sách hỗ trợ hậu COVID vừa mang tính ứng phó tạm thời, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả; hệ thống pháp luật và quy định còn lạc hậu, rủi ro tạo động lực phát triển quy mô rất thấp. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp chọn duy trì quy mô nhỏ để tránh các rủi ro về thuế, pháp lý và thủ tục hành chính phức tạp.

Xem toàn bộ bài nghiên cứu: Phát huy nội lực quốc gia từ kinh tế tư nhân: Tái cấu trúc mô hình phát triển Việt Nam TẠI ĐÂY.

Nhóm tác giả: GS. TS. Nguyễn Đông Phong, PGS.TS. Phạm Thị Kiên – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Đây là bài viết nằm trong Chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng từ UEH với thông điệp “Research Contribution For All – Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng”, UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin UEH Research Insights tiếp theo.

Tin, ảnh: Tác giả, Ban Truyền thông và Phát triển đối tác UEH

Giọng đọc: Thanh Kiều

Chân Trang (1)

Chu kỳ giảm giá của đồng USD?

TS. Đinh Thị Thu Hồng và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Việt Nam cần kịch bản cho thương mại tương lai

ThS. Tô Công Nguyên Bảo

26 Tháng Sáu, 2021

Hệ thống tiền tệ tiếp theo như thế nào?

TS. Lê Đạt Chí và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam

Khoa Quản lý nhà nước

26 Tháng Sáu, 2021

Cần đưa giao dịch công nghệ lên sàn chứng khoán

Bộ Khoa học và Công nghệ

5 Tháng Sáu, 2021

Thiết kế đô thị: tầm nhìn vững chắc cho đô thị bền vững

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

Phục hồi du lịch và nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy ảnh hưởng bởi Covid-19

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

2021 sẽ là năm khởi đầu của chu kỳ tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

5 Tháng Sáu, 2021

Quỹ vaccine sẽ khả thi khi có người dân đóng góp

Phạm Khánh Nam, Việt Dũng

5 Tháng Sáu, 2021

Kích thích kinh tế, gia tăng vận tốc dòng tiền

Quách Doanh Nghiệp

5 Tháng Sáu, 2021

Đi tìm chiến lược hậu Covid-19 cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo, ThS Lê Văn

5 Tháng Sáu, 2021

Insurtech – Cơ hội và thách thức cho Startup Việt

Ths. Lê Thị Hồng Hoa

5 Tháng Sáu, 2021