[Research Contribution] Chiến lược kết nối các bên liên quan để triển khai Living Lab nhằm giải quyết các vấn đề đô thị
25 Tháng Mười Hai, 2025
Từ khóa: Chiến lược kết nối 4P; Living Lab; đô thị bền vững
Trong bối cảnh nhiều đô thị trên thế giới triển khai thành công mô hình Living Lab như một công cụ giải quyết các vấn đề đô thị hướng đến phát triển bền vững, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết xây dựng và vận hành Living Lab trong tiến trình trở thành đô thị thông minh, bền vững. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của Living Lab là mức độ gắn kết và hợp tác giữa các bên liên quan. Trên cơ sở tiếp cận định tính, tham luận của nhóm tác giả thuộc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) đã tổng hợp khung lý thuyết về gắn kết các bên liên quan, phân tích các mô hình Living Lab tiêu biểu tại châu Âu và châu Á có nhiều tương đồng với bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các hàm ý về giải pháp, phương pháp và kế hoạch hành động nhằm kết nối hiệu quả các chủ thể, góp phần giải quyết các vấn đề đô thị và thúc đẩy phát triển thành phố thông minh, bền vững.
Living Lab trong phát triển đô thị thông minh và bền vững
Nhiều đô thị được xếp hạng là thành phố thông minh như Singapore, Seoul (Hàn Quốc), Amsterdam (Hà Lan)… đã phát triển mô hình Living Lab như một công cụ hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề đô thị tồn tại, qua đó thúc đẩy quá trình phát triển đô thị theo hướng thông minh, sáng tạo, hiệu quả và bền vững. Điểm cốt lõi của mô hình này là sự huy động và phối hợp nguồn lực tổng hợp – bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực và thời lực – từ tất cả các chủ thể liên quan trong xã hội.
Living Lab được hiểu là một nền tảng nghiên cứu – đổi mới tích hợp, kết nối các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển và ứng dụng nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống thực tiễn để giải quyết các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình đô thị hóa thông qua công nghệ và đổi mới sáng tạo. Living Lab có thể tồn tại dưới dạng không gian vật lý, môi trường số hoặc không gian tương tác, nơi các bên liên quan hình thành mối quan hệ đối tác chặt chẽ giữa khu vực công, khu vực tư nhân, giới học thuật và cộng đồng người sử dụng.
Quan hệ đối tác công – tư – người dân (Public–Private–People Partnership, gọi tắt là 4P), hay còn được tiếp cận dưới khung “chuỗi xoắn” đổi mới, được xem là đặc trưng nền tảng và điều kiện tiên quyết quyết định sự thành công của Living Lab. Trong đó, các bên liên quan đảm nhiệm những vai trò khác nhau như hoạch định chính sách, phát triển công nghệ, nghiên cứu – tư vấn, thử nghiệm, phản hồi và đồng sáng tạo giải pháp.
Khoảng trống nghiên cứu và bối cảnh Việt Nam
Mặc dù mô hình Living Lab đã được triển khai rộng rãi tại nhiều quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề đô thị, tại Việt Nam, việc ứng dụng Living Lab vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu và chưa có mô hình chính thức nào được thiết lập. Trong khi đó, đối với các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh – nơi đang định hướng phát triển theo mô hình đô thị thông minh và bền vững – Living Lab được xem là một hướng tiếp cận tiềm năng nhằm thử nghiệm và triển khai các giải pháp đổi mới sáng tạo gắn với bối cảnh thực tiễn.
Trong tiến trình này, hợp tác 4P đóng vai trò là điểm mới mang tính then chốt, giúp thiết lập nền tảng thể chế, tổ chức và xã hội vững chắc cho việc hình thành và vận hành Living Lab. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu hệ thống về chiến lược kết nối các bên liên quan trong Living Lab, đặc biệt là các nghiên cứu kết hợp giữa khảo lược lý thuyết và phân tích các trường hợp điển hình quốc tế để rút ra bài học phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đề xuất chiến lược kết nối hiệu quả các bên liên quan nhằm triển khai mô hình Living Lab để giải quyết các vấn đề đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ vai trò và thời điểm tham gia của các chủ thể trong hợp tác 4P xuyên suốt các giai đoạn của một dự án Living Lab.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, dựa trên khảo lược các nghiên cứu và khung lý thuyết liên quan đến gắn kết các bên liên quan, kết hợp với phân tích các trường hợp Living Lab tiêu biểu đã triển khai thành công trên thế giới.
Phân tích các trường hợp Living Lab điển hình
*Stratumseind Living Lab (Châu Âu)
Stratumseind Living Lab được triển khai từ năm 2013 tại một tuyến phố trung tâm của thành phố Eindhoven (Hà Lan) – nơi tập trung nhiều quán bar và thường xuyên xảy ra các vấn đề xã hội như bạo lực và trộm cắp. Mục tiêu của dự án là can thiệp và cải thiện các vấn đề này thông qua hai nhóm giải pháp chính: (i) các can thiệp “mức độ thấp” nhằm thay đổi môi trường vật lý đường phố (ánh sáng, màu sắc, mùi hương, thiết kế không gian); và (ii) đo lường hành vi người sử dụng thông qua hệ thống cảm biến để thu thập dữ liệu thời gian thực.
Thành công của Stratumseind Living Lab đến từ sự tham gia và phối hợp hiệu quả của nhiều bên liên quan, trong đó chính quyền tài trợ khoảng 50% tổng kinh phí dự án, cùng sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ (như Philips) và cộng đồng cư dân. Mặc dù phạm vi triển khai không bao phủ toàn thành phố, dự án đã tạo ra một hệ sinh thái dữ liệu và nền tảng ra quyết định dựa trên bằng chứng, đồng thời cung cấp những bài học giá trị cho quản lý đô thị thông minh.
*Alley Living Lab (Châu Á)
Alley Living Lab tại thành phố Daegu (Hàn Quốc) tập trung vào tái tạo đô thị thông qua các con hẻm – không gian đô thị nhỏ nhưng mang nhiều giá trị văn hóa và xã hội. Living Lab này huy động nghệ sĩ, thợ thủ công, cư dân địa phương và các tổ chức liên quan tham gia đồng sáng tạo nhằm cải thiện môi trường sống, khôi phục giá trị văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Thông qua quá trình đồng sáng tạo dựa vào cộng đồng, Daegu đã hình thành mạng lưới Living Lab rộng khắp, thúc đẩy dân chủ đô thị, gia tăng mức độ tham gia của người dân và kết nối các sáng kiến đổi mới ở cấp độ cá nhân – tuyến hẻm – khu vực đô thị.
Đề xuất chiến lược kết nối các bên liên quan theo mô hình 4P
Quan hệ đối tác 4P (Public – Private – People) được xác định là nền tảng cốt lõi cho sự hình thành và phát triển bền vững của Living Lab. Trong đó:
- Khu vực công (Public) đóng vai trò kiến tạo thể chế, tạo điều kiện và định hướng chiến lược; đồng thời, các trường đại học và viện nghiên cứu hỗ trợ về phương pháp, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
- Khu vực tư nhân (Private) tham gia với vai trò phát triển, thử nghiệm và thương mại hóa các giải pháp, đồng thời hưởng lợi từ việc tiếp cận dữ liệu và người sử dụng thực.
- Cộng đồng người dân (People) tham gia xuyên suốt quá trình đồng sáng tạo, đánh giá và thụ hưởng các giải pháp, góp phần đảm bảo tính phù hợp và bền vững xã hội của Living Lab.
Dựa trên lý thuyết của Mitchell và cộng sự (1997), chiến lược kết nối các bên liên quan được đề xuất gồm năm giai đoạn: (1) xác định đối tượng; (2) thu hút; (3) gắn kết; (4) đóng góp; và (5) đánh giá – điều chỉnh. Chiến lược này được triển khai linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển của Living Lab nhằm tối ưu hóa sự tham gia và cam kết của các đối tác.
Hình 1. Hợp tác trên nền tảng 4P và các bên liên quan
(Nguồn: Steen & Van Bueren, 2017)
Hình 2. Quy trình kết nối các đối tác 4P liên quan đến xây dựng và phát triển Living Lab
(Nhóm nghiên cứu đề xuất)
Đề xuất cách thức kết nối các bên liên quan trong phát triển Living Lab tại khu đô thị
Thứ nhất, cần tổ chức các không gian đối thoại mở nhằm thúc đẩy trao đổi, thảo luận đa bên và cùng xác lập tầm nhìn chung cho Living Lab, bảo đảm các bên tham gia đều nhận diện rõ lợi ích của mình trên nền tảng đổi mới sáng tạo mở (open innovation).
Thứ hai, đơn vị điều phối cần xây dựng một nền tảng kết nối hiệu quả giữa khu vực công, khu vực tư nhân, các cơ sở nghiên cứu – đào tạo và cộng đồng người dân. Trên cơ sở đó, chủ động xác định và lựa chọn các đối tác phù hợp để tham gia dự án, hướng đến hình thành một mạng lưới liên kết có năng lực đồng thiết kế và triển khai các dự án Living Lab.
Thứ ba, nền tảng kết nối cần cho phép tương tác trực tiếp, linh hoạt và kịp thời giữa các bên liên quan, tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác, đồng sáng tạo và thử nghiệm giải pháp trong bối cảnh thực tiễn đô thị.
Thứ tư, đơn vị tổ chức cần chủ động thiết kế và triển khai các sự kiện, diễn đàn, tọa đàm theo vấn đề nhằm tăng cường giao tiếp và xây dựng cam kết giữa các bên liên quan. Trong giai đoạn khám phá, các viện nghiên cứu và trường đại học đóng vai trò nòng cốt, phối hợp với chính quyền địa phương để xác định các nhóm đối tượng tiềm năng tham gia Living Lab. Đối với cộng đồng người dân – nhóm người sử dụng cuối – cần có cách tiếp cận phù hợp, đơn giản hóa ngôn ngữ và phương thức tham gia, nhằm khuyến khích sự đồng hành thực chất trong suốt quá trình triển khai dự án. Đồng thời, mạng lưới kết nối cần bảo đảm tất cả các đối tượng tham gia đều gắn với tầm nhìn và định hướng giải quyết vấn đề cốt lõi của Living Lab.
Thứ năm, trong giai đoạn thiết lập, cần công bố rõ tầm nhìn, mục tiêu, lộ trình triển khai và kế hoạch thử nghiệm (demo) với thông tin minh bạch nhằm giảm thiểu rủi ro và gia tăng niềm tin của các bên liên quan. Do Living Lab mang tính thử nghiệm cao, các đơn vị điều phối cần làm rõ giá trị mà các bên có thể thu nhận, trong đó kinh nghiệm, dữ liệu và tri thức tích lũy từ quá trình triển khai được xem là lợi ích quan trọng nhất.
Thứ sáu, cần xây dựng văn hóa hợp tác dựa trên tư duy mở, khuyến khích tiếp nhận đa dạng các ý tưởng và đề xuất giải pháp. Đổi mới sáng tạo là quá trình tìm kiếm các giải pháp mới cho tương lai, do đó sự cởi mở, sẵn sàng thử nghiệm và chấp nhận rủi ro là điều kiện tiên quyết để các bên có thể hợp tác hiệu quả.
Thứ bảy, việc xác định một không gian vật lý cố định để tổ chức các hoạt động gặp gỡ, làm việc và sự kiện của Living Lab là cần thiết nhằm duy trì tương tác thường xuyên giữa các đối tác. Địa điểm này có thể do chính quyền địa phương lựa chọn, ưu tiên đặt gần khu vực triển khai dự án (như khu vực Trường Thọ, Thành phố Thủ Đức) để thuận tiện cho công tác phối hợp và giám sát.
Cuối cùng, các hoạt động truyền thông cần được triển khai xuyên suốt vòng đời của Living Lab nhằm nâng cao nhận thức và duy trì sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm: xây dựng và phát triển thương hiệu Living Lab; phát triển website, video, ấn phẩm giới thiệu và bản tin điện tử; tổ chức hội thảo, diễn đàn và các cuộc thi sáng kiến; đồng thời đẩy mạnh truyền thông đa kênh trên báo chí, truyền hình và mạng xã hội để lan tỏa giá trị, kết quả và tác động tích cực của Living Lab đối với cộng đồng và đô thị.
Nhóm tác giả: PGS.TS. Trịnh Tú Anh, TS. Dương Thị Thùy Trang, ThS. Đỗ Lê Phúc Tâm – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Đây là bài viết nằm trong Chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng từ UEH với thông điệp “Research Contribution For All – Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng”, UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin UEH Research Insights tiếp theo.
Tin, ảnh: Tác giả, Ban Truyền thông và Phát triển đối tác UEH
Giọng đọc: Thanh Kiều
[Unbox Glo-cal Program] Vi vu Đông Nam Á cùng Chương trình Cử nhân ASIA Co-op
20 Tháng Mười Hai, 2025
[Research Contribution] Đồng đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế đại dương bền vững
12 Tháng Mười Hai, 2025
[Research Contribution] Khám phá sự đối lập giữa nghiện thương hiệu và tình yêu thương hiệu
24 Tháng Mười Một, 2025
[Research Contribution] Phát triển bền vững – Góc nhìn đa chiều về hạnh phúc
8 Tháng Mười, 2025
[Research Contribution] Những góc nhìn mới về tương lai của thế giới ảo
16 Tháng Sáu, 2025
[Podcast] Góp ý giải pháp phát triển giáo dục Đại học
5 Tháng Hai, 2025
[Podcast] Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên
22 Tháng Một, 2025
[Podcast] “Mô hình Campus thích ứng – Giải pháp dành cho Mekong bền vững”
13 Tháng Một, 2025
[Podcast] Đào tạo nhân lực Mekong tương lai: Trao quyền hành động bền vững
30 Tháng Mười Hai, 2024
[Podcast] Dự án Phát triển khung công bằng giao thoa nhằm khuyến khích khả năng đi bộ
30 Tháng Mười Hai, 2024
[Podcast] Chiến lược thiết kế hậu kỹ thuật số trong nghệ thuật truyền thông
27 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Đồng sáng tạo và xây dựng cộng đồng ArtTech hướng tới tương lai bền vững
26 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Quản trị công nghệ trong kỷ nguyên 4.0: Tổng quan và nhu cầu thị trường
21 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Công nghệ thông tin – truyền thông và sự ổn định của hệ thống ngân hàng
21 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Vai trò của chính sách vĩ mô thận trọng đối với tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam
21 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Đề xuất hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán tại Việt Nam
21 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] NFTs – Cuộc cách mạng nghệ thuật hay cơn sốt nhất thời?
18 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] CareFeeder – Giải pháp công nghệ hỗ trợ người già và bệnh nhân Parkinson tự ăn uống
11 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Ứng dụng học máy trong phân tích dữ liệu quản trị nguồn nhân lực
11 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Nghệ thuật dân gian thời 4.0: Múa rối nước tự động dựa trên nền tảng robot
7 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Bứt phá hiệu suất sáng tạo nhân viên nhờ phản hồi mang tính phát triển
7 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] Giải pháp MPIA: Lối thoát tạm thời cho cuộc khủng hoảng thương mại quốc tế?
7 Tháng Mười Một, 2024
[Podcast] “Căn bệnh Hà Lan” trong việc nhận kiều hối và trường hợp Việt Nam
31 Tháng Mười, 2024
[Podcast] Giải pháp nâng cao hoạt động vận động cho sinh viên
9 Tháng Tám, 2024
[Podcast] Phong Cách Lãnh Đạo Đạo Đức Và Hành Vi Ngoài Vai Trò Của Công Chức
29 Tháng Bảy, 2024
[Podcast] Định Hình Chiến Lược Phát Triển Toàn Diện, Bền Vững Cho Đất Nước
25 Tháng Bảy, 2024
[Podcast] Mô Hình Đại Học Bền Vững Dành Cho Các Thị Trường Mới Nổi
19 Tháng Bảy, 2024
[Podcast] Những Tiếp Cận Mới Nhất Dành Cho Các Đại Học Bền Vững
11 Tháng Bảy, 2024
[Podcast] Tác Động Của Nguồn Nhân Lực Xanh Đến Các Mục Tiêu Về Môi Trường
24 Tháng Năm, 2024
Kinh Tế Xã Hội Và Sự Phát Thải CO2 Ở Việt Nam Giai Đoạn 1990 – 2018
23 Tháng Năm, 2024
Pháp Luật Dữ Liệu – Kỳ 1: Cần Một Cách Tiếp Cận Mới
15 Tháng Năm, 2024
[Podcast] Pháp Luật Dữ Liệu – Kỳ 1: Cần Một Cách Tiếp Cận Mới
14 Tháng Năm, 2024
Đánh Giá Quảng Cáo Trên Nền Tảng Tiktok
8 Tháng Năm, 2024
[Podcast] Đánh Giá Quảng Cáo Trên Nền Tảng Tiktok
7 Tháng Năm, 2024
[podcast] Phản Ứng Của Chính Sách Xã Hội Đối Với Đại Dịch Covid-19 Ở Một Số Quốc Gia (Kỳ 1)
8 Tháng Mười Hai, 2023
Promoting Learner Autonomy in English Language Learning (Part 2)
28 Tháng Mười Một, 2023
[Podcast] Ngoại giao kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
10 Tháng Mười Một, 2023
ArtTech and sustainable development
27 Tháng Mười, 2023
Cộng đồng ArtTech đầu tiên tại Việt Nam – Một năm nhìn lại
9 Tháng Mười, 2023
ArtTech – Một xu hướng tương lai
5 Tháng Mười, 2023
ArtTech và phát triển bền vững
3 Tháng Mười, 2023
[Podcast] Máy Tính Và Công Nghệ “Không Đi Một Mình” – Phần 4
24 Tháng Bảy, 2023
[Podcast] Tác Động Của Đồng Tiền Kỹ Thuật Số Đến Tỷ Giá Hối Đoái
14 Tháng Mười Một, 2022
[Podcast] Chuyển Đổi Số Trong Ngành Du Lịch Việt Nam
5 Tháng Năm, 2022
[Podcast] Chuyển Đổi Số Trong Lĩnh Vực Y Tế Ở Việt Nam
25 Tháng Ba, 2022
[Podcast] Phân Tích Dữ Liệu Con Người Tại Việt Nam
18 Tháng Ba, 2022
[Podcast] Chuyển Đổi Số Trong Nông Nghiệp Ở Việt Nam
11 Tháng Ba, 2022
[Podcast] Mô Hình Kinh Tế Chia sẻ: Các Vấn Đề Quản Lý Ở Việt Nam
21 Tháng Một, 2022
[Podcast] Nâng Cao Trải Nghiệm Khách Hàng Trực Tuyến Trong Ngành Du Lịch
15 Tháng Một, 2022
[Podcast] Chính Sách Lao Động Việc Làm Cho TP. HCM Trong Giai Đoạn Sau Giãn Cách
28 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Xây Dựng Thị Trường Chứng Khoán Phi Tập Trung Dựa Trên Công Nghệ Blockchain
24 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Học Tập Suốt Đời Trong Thế Giới Số: Góc Nhìn Từ Nghề Nghiệp Kế Toán, Kiểm toán
21 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Học Tập Suốt Đời Tại UEH: Hướng Đến Đại Học Bền Vững
14 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Xu Hướng Kinh Doanh Bán Lẻ Trực Tuyến Thời Kỳ Covid
10 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Big Data Cho Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững: Kinh Nghiệm Quốc Tế
7 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Cải Cách Luật Đất Đai Để Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế
2 Tháng Mười Hai, 2021
[Podcast] Cuộc Cách Mạng Trong Kinh Tế Học Thực Nghiệm
30 Tháng Mười Một, 2021
[Podcast] Chỉ Số Giá Tiêu Dùng Từ Góc Nhìn Khai Thác Dữ Liệu Lớn (Big Data)
17 Tháng Mười Một, 2021
[Podcast] Toàn Cảnh Tiền Tệ Kỹ Thuật Số – Phần 5 : Tiền Ổn Định Tư Nhân Diem
5 Tháng Mười Một, 2021
Đứt gãy chuỗi cung ứng vùng trọng điểm phía Nam: 8 giải pháp
20 Tháng Mười, 2021
[Podcast]Toàn Cảnh Tiền Tệ Kỹ Thuật Số – Phần 2: Những Cột Mốc Phát Triển
19 Tháng Mười, 2021
[Podcast] Toàn cảnh tiền tệ kỹ thuật số – Phần 1: Xu thế của thời đại
15 Tháng Mười, 2021
NGÂN HÀNG BẮT TAY FINTECH (Phần 3): Các Giải Pháp Hỗ Trợ
8 Tháng Mười, 2021
UEH chủ trì thành công Hội thảo ICBF 2021
7 Tháng Mười, 2021
GRSD 2021- Hội thảo khoa học “Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”
6 Tháng Mười, 2021
NGÂN HÀNG BẮT TAY FINTECH (phần 2): Chọn đối tác theo tiêu chí nào?
4 Tháng Mười, 2021
‘Đổi mới giáo dục nghề nghiệp là động cơ tăng trưởng kinh tế’
30 Tháng Chín, 2021
Giải pháp “mở cửa” an toàn với các khu công nghiệp tại TP Hồ Chí Minh
27 Tháng Chín, 2021
Khi cuộc sống “bình thường mới”, nơi ở cho người lao động cần được quan tâm
9 Tháng Chín, 2021
Hướng phát triển mô hình đào tạo luân phiên (Dual Education) tại Việt Nam
6 Tháng Chín, 2021
Webinar: Tương lai ngành Thẩm định giá trong thập niên mới
17 Tháng Tám, 2021
Hãy là người dùng thông minh khi đón nhận và chia sẻ thông tin
9 Tháng Tám, 2021
Webinar: An toàn thông tin kế toán trong kỷ nguyên số
3 Tháng Tám, 2021
Có nên đưa lãi suất tiền gửi VND về 0 phần trăm?
20 Tháng Bảy, 2021
Chu kỳ giảm giá của đồng USD?
TS. Đinh Thị Thu Hồng và nhóm nghiên cứu
26 Tháng Sáu, 2021
Việt Nam cần kịch bản cho thương mại tương lai
ThS. Tô Công Nguyên Bảo
26 Tháng Sáu, 2021
Hệ thống tiền tệ tiếp theo như thế nào?
TS. Lê Đạt Chí và nhóm nghiên cứu
26 Tháng Sáu, 2021
Chuyển đổi số trong trường đại học: Dạy học trực tuyến sẽ trở thành xu hướng tất yếu
GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài
26 Tháng Sáu, 2021
Tiền số ngân hàng Trung ương – Vận hành và thử nghiệm
Châu Văn Thành
26 Tháng Sáu, 2021
Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam
Khoa Quản lý nhà nước
26 Tháng Sáu, 2021
“Cấp cứu” doanh nghiệp trước làn sóng COVID-19 thứ 4
23 Tháng Sáu, 2021
Chuyên gia UEH: Việt Nam nên kết hợp tiêm vaccine miễn phí và dịch vụ
23 Tháng Sáu, 2021
Hội thảo khoa học về Thị trường bảo hiểm Việt Nam (Conference on Vietnam’s Insurance Industry – CVII)
Khoa Toán – Thống Kê
7 Tháng Sáu, 2021
Muốn có trung tâm tài chính phải có chiến lược thích ứng
Khoa Tài chính
5 Tháng Sáu, 2021
Cần đưa giao dịch công nghệ lên sàn chứng khoán
Bộ Khoa học và Công nghệ
5 Tháng Sáu, 2021
Sự hữu ích của Lý thuyết trò chơi: Thảo luận về giải Nobel Kinh tế năm 2020
JABES
5 Tháng Sáu, 2021
Đoán định tư pháp: Xu thế mới trong hành nghề Luật
Khoa Luật
5 Tháng Sáu, 2021
Thiết kế đô thị: tầm nhìn vững chắc cho đô thị bền vững
Viện Đô thị thông minh và Quản lý
5 Tháng Sáu, 2021
Phục hồi du lịch và nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy ảnh hưởng bởi Covid-19
Viện Đô thị thông minh và Quản lý
5 Tháng Sáu, 2021
Nghiên cứu Kinh tế học lao động trong sự biến động của thế giới
JABES
5 Tháng Sáu, 2021
Kết hợp Nghệ thuật và Công nghệ hướng đến Thành phố thông minh đáng sống
Viện Đô thị thông minh và Quản lý
5 Tháng Sáu, 2021
Chuỗi bài “The Basics of B2B”: Thị trường việc làm rộng mở nhiều sinh viên chuyên ngành Marketing đang bỏ quên
TS. Đinh Tiên Minh
5 Tháng Sáu, 2021
Môi trường không phải để nhà đầu tư xài miễn phí!
TS. Phạm Khánh Nam
5 Tháng Sáu, 2021
2021 sẽ là năm khởi đầu của chu kỳ tăng trưởng mới
PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo
5 Tháng Sáu, 2021
Quỹ vaccine sẽ khả thi khi có người dân đóng góp
Phạm Khánh Nam, Việt Dũng
5 Tháng Sáu, 2021
Kích thích kinh tế, gia tăng vận tốc dòng tiền
Quách Doanh Nghiệp
5 Tháng Sáu, 2021
Đi tìm chiến lược hậu Covid-19 cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo, ThS Lê Văn
5 Tháng Sáu, 2021
Insurtech – Cơ hội và thách thức cho Startup Việt
Ths. Lê Thị Hồng Hoa
5 Tháng Sáu, 2021
