[Research Contribution] Giải mã cơ chế tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại Đồng bằng sông Cửu Long

16 Tháng Chín, 2025

Từ khoá: Thực phẩm hữu cơ; mô hình SOR; ý thức sức khỏe; hành vi tiêu dùng; kiến thức người tiêu dùng

Trong bối cảnh người dân ngày càng quan tâm đến sức khỏe và chất lượng dinh dưỡng, thực phẩm hữu cơ được xem là xu hướng tiêu dùng bền vững. Tuy nhiên, tại Đồng bằng sông Cửu Long, mức độ chấp nhận và sẵn lòng chi trả cho sản phẩm hữu cơ vẫn còn hạn chế. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả thuộc UEH Mekong, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) đã sử dụng mô hình Kích thích – Quá trình – Phản ứng (S-O-R) để làm rõ cơ chế ảnh hưởng của ý thức sức khỏe, kiến thức, thái độ đến ý định tiêu dùng và sẵn lòng chi trả thực phẩm hữu cơ. Kết quả nghiên cứu đã gợi mở nhiều hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp trong phát triển ngành thực phẩm sạch tại các tỉnh đang đô thị hóa nhanh ở khu vực ĐBSCL.

Bg 1499x600

Trong bối cảnh toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang lối sống bền vững, thực phẩm hữu cơ trở thành lựa chọn ngày càng phổ biến nhờ yếu tố an toàn, thân thiện môi trường và sức khỏe. Tại Việt Nam, thực phẩm hữu cơ đã được quy định rõ trong Nghị định 109/2018/NĐ-CP với hệ thống chứng nhận cụ thể. Thị trường trong nước tuy còn non trẻ nhưng đang tăng trưởng, với diện tích canh tác và giá trị tiêu dùng liên tục gia tăng. Tuy nhiên, hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại các đô thị vệ tinh và khu vực bán thành thị như Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu.

Dù đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến vai trò của ý thức sức khỏe trong tiêu dùng thực phẩm hữu cơ nhưng mối quan hệ tuần tự giữa ý thức – kiến thức – thái độ – hành vi vẫn chưa được kiểm định rõ ràng. Đặc biệt, vai trò tác động gián tiếp của kiến thức và thái độ trong quá trình ra quyết định vẫn còn bỏ ngỏ.

Nghiên cứu này tiếp cận theo mô hình S-O-R (Stimulus – Organism – Response) nhằm khám phá cơ chế tác động của ý thức sức khỏe và kiến thức (S) thông qua thái độ (O) đến hành vi tiêu dùng và sẵn lòng chi trả mua thực phẩm hữu cơ (R). Câu hỏi trọng tâm được đặt ra: Liệu kiến thức và thái độ có đóng vai trò như các “cầu nối” quan trọng để chuyển hóa ý thức sức khỏe thành hành vi tiêu dùng thực tế? Bằng cách làm rõ chuỗi tác động này, nhóm nghiên cứu kỳ vọng sẽ góp phần vào lý thuyết hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm xanh, đồng thời cung cấp hàm ý thiết thực để phát triển thị trường thực phẩm hữu cơ một cách hiệu quả và bền vững.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, người mua thực phẩm hữu cơ tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là nữ, trong độ tuổi 26-40, có trình độ đại học trở lên và thu nhập từ 8 đến 25 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý, hơn 87% số người tham gia khảo sát cho biết họ dành từ 11% đến 30% thu nhập hàng tháng cho việc mua thực phẩm hữu cơ. Đây là một tín hiệu tích cực, phản ánh sự quan tâm ngày càng cao của người dân trong khu vực đối với sức khỏe và chất lượng thực phẩm tiêu dùng hàng ngày.

Sử dụng mô hình PLS-SEM với phần mềm SmartPLS 4, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích dữ liệu từ 311 người tiêu dùng tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy: Ý thức sức khỏe có tác động mạnh đến kiến thức và thái độ; Thái độ là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp lớn nhất đến cả ý định tiêu dùng và sẵn lòng chi trả.

Quan trọng hơn, nghiên cứu đã chứng minh tác động gián tiếp có ý nghĩa thống kê của “Ý thức sức khỏe” đến “Ý định tiêu dùng” và “Sẵn lòng chi trả”. Theo đó, người tiêu dùng càng ý thức về sức khỏe, họ sẽ càng tìm hiểu nhiều hơn, dẫn đến thái độ tích cực hơn và từ đó sẵn sàng hành động (có ý định mua và chịu chi trả cho thực phẩm hữu cơ).

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm đưa thực phẩm hữu cơ đến gần hơn với người tiêu dùng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long:

Trước hết, tăng cường giáo dục về kiến thức sản phẩm. Vì kiến thức đóng vai trò trung gian, việc cung cấp thông tin dễ hiểu, minh bạch và khoa học về thực phẩm hữu cơ sẽ góp phần làm thay đổi thái độ và nâng cao ý định mua của người tiêu dùng. Nhà sản xuất có thể tận dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội đưa thông tin cách nhận biết logo và lợi ích, hiệu quả về sức khỏe mà thực phẩm hữu cơ đem lại nhằm nâng cao mức độ nhận biết và kiến thức của người tiêu dùng thực phẩm hữu cơ giữa nhiều sản phẩm. Đồng thời cũng cần phải cung cấp đủ các thông tin về sản phẩm như: xuất xứ, công dụng, cách thức chế biến,… trên bao bì, ngoài ra nhãn hàng có thể thực hiện các chương trình khuyến mãi, giảm giá để tăng sự tương tác giữa thực phẩm hữu cơ và người tiêu dùng.

Thứ hai, truyền thông xoay quanh sức khỏe để kích hoạt hành vi.  Kết quả cho thấy, ý thức về sức khỏe là khởi đầu quan trọng để hình thành hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ. Vì vậy, các doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách nên đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông sức khỏe gắn với lối sống xanh, sạch và an toàn cho người tiêu dùng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm hữu cơ cần có những chương trình giới thiệu về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm hữu cơ giúp người tiêu dùng hiểu rõ lợi ích về sức khỏe từ thực phẩm hữu cơ. Ngoài ra, các công ty có thể tổ chức các chương trình xã hội nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng và lợi ích của việc sử dụng thực phẩm hữu cơ để việc sử dụng thực phẩm hữu cơ ngày càng được nhân rộng.

Thứ ba, tạo lập niềm tin để thúc đẩy sẵn lòng chi trả. Thái độ tích cực là yếu tố then chốt làm gia tăng ý định mua và sẵn lòng chi trả thực phẩm hữu cơ của người tiêu dùng. Đồng bằng sông Cửu Long có mức độ phát triển kinh tế giữa các tỉnh không đều; các sản phẩm hữu cơ vẫn chưa được bán rộng rãi như thực phẩm thông thường, hai điều này làm cho người tiêu dùng khó tiếp cận được sản phẩm. Doanh nghiệp cần tạo dựng sự uy tín, chứng minh tính xác thực của chứng nhận hữu cơ, và truyền thông giá trị sản phẩm rõ ràng để người tiêu dùng cảm thấy xứng đáng với chi phí bỏ ra.

Cuối cùng, ưu tiên nhóm khách hàng mục tiêu có trình độ và thu nhập trung bình – khá. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm khách hàng có trình độ đại học và thu nhập từ 8-25 triệu đồng/tháng là lực lượng tiêu dùng nòng cốt của thị trường thực phẩm hữu cơ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Đây cũng là nhóm có ý định mua cao và sẵn lòng chi trả ổn định, phù hợp để định vị các chiến dịch tiếp thị mục tiêu. Vì vậy, các chương trình marketing, truyền thông, trưng bày và khuyến khích dùng thử cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm nhân khẩu học, hành vi tiêu dùng và kênh tiếp cận của nhóm này, ưu tiên triển khai tại các đô thị vệ tinh, trung tâm thương mại và các chuỗi bán lẻ hiện đại.

Đồng thời, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nông nghiệp trọng điểm, có điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất, nước, khí hậu và là trung tâm sản xuất thực phẩm hữu cơ chiến lược của cả nước. Dù mật độ dân số không cao như các đô thị lớn, nhưng nhu cầu tiêu dùng thực phẩm an toàn tại các đô thị vệ tinh và trung tâm cấp tỉnh vẫn đang gia tăng. Do đó, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây dựng hệ thống chuỗi cung ứng hữu cơ tại địa phương, bao gồm: Phát triển các điểm bán lẻ chuyên biệt, mở rộng kênh phân phối thông qua sàn thương mại điện tử và tăng cường kết nối giữa vùng sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng. Khi người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận, trải nghiệm và cảm nhận giá trị thực phẩm hữu cơ, thái độ tích cực sẽ ngày càng được củng cố, từ đó thúc đẩy ý định tiêu dùng và sẵn lòng chi trả. Chính sự gắn kết này sẽ giúp ĐBSCL không chỉ là vùng sản xuất, mà còn trở thành trung tâm tiêu dùng và lan tỏa văn hóa tiêu dùng xanh ra toàn quốc.

Chính vì thế, nghiên cứu đã làm rõ cơ chế tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại ĐBSCL theo mô hình S-O-R, nhấn mạnh vai trò của ý thức sức khỏe, kiến thức và thái độ trong hình thành hành vi tiêu dùng bền vững. Kết quả không chỉ đóng góp về mặt lý thuyết cho lĩnh vực nghiên cứu hành vi người tiêu dùng mà còn mang lại hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp và chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực bảo đảm an ninh lương thực, việc thúc đẩy tiêu dùng thực phẩm hữu cơ không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn là giải pháp chiến lược hướng tới một nền kinh tế xanh và cộng đồng khỏe mạnh tại ĐBSCL.

Xem toàn bộ bài nghiên cứu Giải mã cơ chế tiêu dùng thực phẩm hữu cơ tại Đồng bằng sông Cửu Long theo mô hình S-O-R TẠI ĐÂY

Nhóm tác giả: TS. Trương Thị Hoàng Oanh, Phan Ngọc Trinh, Võ Thị Như Ý, Đào Hồng Huệ, Trần Ngọc Hân – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Đây là bài viết nằm trong chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng với thông điệp “For a More Sustainable Mekong – Vì một Đồng bằng sông Cửu Long bền vững”, thuộc chương trình “Research Contribution For All – Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng” do UEH thực hiện. UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin UEH Research Insights tiếp theo.

Tin, ảnh: Tác giả, Phòng Tuyển sinh – Truyền thông UEH Mekong, Ban Truyền thông và Phát triển đối tác UEH

Giọng đọc: Thanh Kiều

Chu kỳ giảm giá của đồng USD?

TS. Đinh Thị Thu Hồng và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Việt Nam cần kịch bản cho thương mại tương lai

ThS. Tô Công Nguyên Bảo

26 Tháng Sáu, 2021

Hệ thống tiền tệ tiếp theo như thế nào?

TS. Lê Đạt Chí và nhóm nghiên cứu

26 Tháng Sáu, 2021

Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam

Khoa Quản lý nhà nước

26 Tháng Sáu, 2021

Cần đưa giao dịch công nghệ lên sàn chứng khoán

Bộ Khoa học và Công nghệ

5 Tháng Sáu, 2021

Thiết kế đô thị: tầm nhìn vững chắc cho đô thị bền vững

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

Phục hồi du lịch và nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy ảnh hưởng bởi Covid-19

Viện Đô thị thông minh và Quản lý

5 Tháng Sáu, 2021

2021 sẽ là năm khởi đầu của chu kỳ tăng trưởng mới

PGS.TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo

5 Tháng Sáu, 2021

Quỹ vaccine sẽ khả thi khi có người dân đóng góp

Phạm Khánh Nam, Việt Dũng

5 Tháng Sáu, 2021

Kích thích kinh tế, gia tăng vận tốc dòng tiền

Quách Doanh Nghiệp

5 Tháng Sáu, 2021

Đi tìm chiến lược hậu Covid-19 cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam

PGS TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo, ThS Lê Văn

5 Tháng Sáu, 2021

Insurtech – Cơ hội và thách thức cho Startup Việt

Ths. Lê Thị Hồng Hoa

5 Tháng Sáu, 2021